Chào mừng và Cảm ơn Quý Khách đến với chúng tôi

Mr.Hải : +84 907 49 49 49
Danh mục sản phẩm
Video
Thống kê truy cập
Khách online 86
Hôm nay 195
Tháng này 1744
Tổng truy cập 14394
Tin tức
Giảm tiêu thụ môi chất lạnh R22 trong chế biến thủy sản - CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN LẠNH HỒNG PHÚC

Giảm tiêu thụ môi chất lạnh R22 trong chế biến thủy sản

Giảm tiêu thụ môi chất lạnh R22 trong chế biến thủy sản

Chế biến thủy sản được đánh giá là ngành sử dụng nhiều chất HCFC22 (R22) ở Việt Nam, mà chất này đang được xem là tác nhân gây hại cho tầng ô zôn, làm trái đất nóng lên, tạo ra những cực đoan trong biến đổi khí hậu. Do đó, một lộ trình phù hợp được đưa ra nhằm giảm tiêu thụ chất R22 trong lĩnh vực chế biến thủy sản là cần thiết.

Giảm tiêu thụ môi chất lạnh R22 trong chế biến thủy sản

http://Images.vietfish.org/Images/Uploaded/Share/2013/12/31/8a5R22.jpg

Chế biến thủy sản được đánh giá là ngành sử dụng nhiều chất HCFC22 (R22) ở Việt Nam, mà chất này đang được xem là tác nhân gây hại cho tầng ô zôn, làm trái đất nóng lên, tạo ra những cực đoan trong biến đổi khí hậu. Do đó, một lộ trình phù hợp được đưa ra nhằm giảm tiêu thụ chất R22 trong lĩnh vực chế biến thủy sản là cần thiết.

Hội thảo “Kế hoạch tổng thể về giảm tiêu thụ môi chất lạnh HCFC-22 (R22) trong lĩnh vực chế biến thủy sản”

Ngành chế biến thủy sản (CBTS) được xem là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ tăng trưởng cao, có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn, chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành nước XK thủy sản hàng đầu thế giới, kim ngạch XK gia tăng nhanh chóng. Chỉ trong vòng 10 năm, từ 2,2 tỷ USD năm 2003 tăng lên gấp 3 lần vào năm 2012, đạt 6,1 tỷ USD, chế biến thuỷ sản đã trở thành ngành công nghiệp hiện đại, đủ năng lực hội nhập, cạnh tranh quốc tế. Song hành với sự phát triển đó, các cơ sở CBTS cũng không ngừng được gia tăng, đầu tư mới và đổi mới. Báo cáo của Cục Chế biến, Thương mại Nông lâm Thủy sản và Nghề muối cho thấy số DN CBTS XK năm 2012 là 568 DN, trong số đó số DN CBTS đông lạnh lên tới 429 DN, tăng gấp đôi so với 211 DN năm 2002.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng đó, các DN CBTS đông lạnh cũng đang phải đối mặt với một số vấn đề tồn tại về môi trường, một trong số đó chính là việc sử dụng chất R22 (H22) trong hệ thống cấp đông và các kho lạnh đông sâu.

 Hội thảo “Kế hoạch tổng thể về giảm tiêu thụ môi chất lạnh H22 (R22) trong lĩnh vực chế biến thủy sản” do Cục Chế biến, Thương mại Nông Lâm Thuỷ sản và Nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) phối hợp với Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu (Bộ Tài nguyên - Môi trường) tổ chức  vào ngày 15/10/2013, tại Hà Nội đề cập đến hiện trạng này.

HCFC22 là gì?

HCFC 22 (R22) là hóa chất được sử dụng trong làm lạnh, được phát minh từ năm 1928 và nhanh chóng trở thành tác nhân lạnh thông dụng nhất, do những đặc tính như không độc, không cháy, giá thiết bị thấp, hiệu suất phát lạnh cao…Trong lạnh công nghiệp, R22 đứng ở vị trí thứ 2 sau NH3. Sản lượng R22 trên toàn thế giới năm 2008 là 800.000 tấn, trong đó gần 500.000 tấn dùng làm tác nhân lạnh. Hiện nay, lượng R22 dùng cho các nước công nghiệp phát triển đang giảm dần, trong khi đó, lượng R22 dùng ở các nước đang phát triển vẫn tiếp tục tăng. Ở nước ta, chất này được sử dụng chủ yếu trong điều hòa không khí, trong sản xuất xốp và đặc biệt trong hệ thống cấp đông của ngành thủy hải sản.

Hiện trạng sử dụng chất R22 tại các cơ sở CBTS

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và PTNT, tại Việt Nam có hơn 600 xí nghiệp chế biến sản phẩm thủy sản đông lạnh, khoảng 80 kho lạnh độc lập, sức chứa lên từ 500 tấn trở lên. Tổng sức chứa kho lạnh toàn ngành đạt khoảng 600.000 tấn. Lĩnh vực chế biến thủy sản được đánh giá là ngành sử dụng nhiều nhất chất R22, với các thiết bị lạnh như dây chuyền cấp đông và tái đông, tủ đông tiếp xúc, tủ đông gió và hầm đông, kho lạnh, máy đá, điều hòa nhiệt độ và làm lạnh nước, hệ thống máy nén và giàn ngưng... Lượng ga R22 nạp bổ sung và nạp mới hằng năm trong ngành thủy sản ước tính khoảng từ 280 đến 300 tấn. Hiện có tới 25% cơ sở cấp đông và 40% cơ sở kho lạnh chạy bằng ga R22, các loại ga khác hiện dùng không đáng kể. Các tỉnh có nhiều DN CBTS dùng ga R22 là TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Khánh Hòa, Cần Thơ, Cà Mau và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Với những ưu thế về chi phí ban đầu, tiện lợi, tốn ít diện tích, khả năng đáp ứng về mặt công nghệ không thua kém NH3R22 đã và đang được nhiều DN CBTS lựa chọn. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các thiết bị lạnh chạy bằng R22 là thiết bị đơn lẻ, được đầu tư dần dần, chỉ một ít là có hệ thống liên hoàn. Một phần đáng kể thiết bị lạnh R22 khi lắp đặt đã là thiết bị đã qua sử dụng, hay bị hỏng hóc, mất ga.

Lộ trình giảm tiêu thụ môi chất lạnh H22 (R22) trong lĩnh vực CBTS

Hơi ga R22 thoát ra ngoài được xem là chất gây tác hại cho tầng ô zôn, ảnh hưởng lớn tới bầu khí quyển, làm trái đất nóng lên, tạo nên những hiện tượng cực đoan trong biến đổi khí hậu.

Theo cam kết của Nghị định thư Montreal, từ ngày 1-1-2013, Việt Nam phải giảm dần việc sử dụng chất HCFC, đến năm 2015 Việt Nam phải giảm 10% lượng HCFC và đến năm 2040, Việt Nam loại trừ hoàn toàn sản xuất và sử dụng chất HCFC. Quỹ Đa phương thi hành Nghị định thư Montrreal cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển tính trên lượng HCFC được loại trừ theo đơn giá của từng lĩnh vực, từng công nghệ thay thế.

 Để tuân thủ nghị định thư Montreal, hạn ngạch NK R22 vào Việt Nam từ năm 2015-2020 dự kiến sẽ giảm 10%, từ 2021-2025 giảm 35%, từ 2025-2030 giảm 32,5%, từ 2030-2040 giảm 2,5% và hoàn toàn chấm dứt NK vào năm 2040.

Cục Khí tượng, Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên Môi trường) cho biết, kế hoạch loại trừ các chất HCFC của Việt Nam, giai đoạn 1 (2012-2017) bao gồm: Giảm sử dụng R22 trong hệ thống kho lạnh, giảm lắp đặt mới thiết bị làm lạnh sử dụng R22 trong ngành thủy sản; Nâng cao hiệu suất năng lượng cho điều hòa không khí sản xuất tại Việt Nam, thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng thiết bị tiết kiệm năng lượng; Tăng cường năng lực kiểm soát NK các chất HCFC.

Lộ trình loại bỏ R22 trong ngành CBTS bao gồm 4 cấu thành: Lộ trình cấm lắp mới thiết bị lạnh R22 từ 1/1/2017 đến 1/1/2024; Lộ trình cải tạo bắt buộc thiết bị lạnh R22 (trừ kho lạnh) sang NH3 và HFC từ 1/1/2025 đến 31/12/2032; Lộ trình chuyển đổi tự nguyện kho lạnh R22 sang NH3và HFC từ 2033 đến 2041; Lộ trình áp dụng các biện pháp giảm thiểu thất thoát R22 và HFC từ các hệ thống lạnh từ 1/1/2015.

Theo ông Lương Đức Khoa, Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Bộ TN-MT thì đây là một thách thức lớn của Việt Nam trong việc tuân thủ Nghị định thư Montreal vì phần lớn các DN CBTS có công nghệ sản xuất khá lạc hậu.

Biện pháp chính sách nhằm giảm thiểu việc sử dụng R22

Nhằm giảm thiểu, tiến tới loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng R22, các biện pháp chính sách được Bộ Tài nguyên Môi trường đưa ra bao gồm: Cấp phép NK các chất HCFC theo hạn ngạch với lượng giảm dần theo hạn định loại trừ HCFC; Không cấp phép thành lập mới các DN sản xuất thiết bị sử dụng HCFC; Hạn chế cấp phép mở rộng sản xuất /nâng cao công suất của các DN hiện đang sử dụng HCFC; Giảm sử dụng HCFC cho dịch vụ sửa chữa thiết bị làm lạnh; Hạn chế lắp mới các thiết bị làm lạnh sử dụng HCFC trong ngành thủy sản (các DN sử dụng thiết bị làm lạnh sử dụng HCFC không thể XK sản phẩm sang châu Âu, Hoa Kỳ).

Ông Nguyễn Việt Dũng, Khoa Điện lạnh, Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội khẳng định, việc ra đời Nghị định “Kế hoạch tổng thể về giảm thiểu tiêu thụ môi chất lạnh R22 trong lĩnh vực chế biến thủy sản” là rất cần thiết, bởi đặc điểm thị trường Việt Nam đa phần là thiết bị NK, nếu không thực hiện việc cắt giảm và loại trừ các chất R22 thì Việt Nam sẽ trở thành bãi rác công nghệ.

Tuy nhiên, trên thực tế, các DN thủy sản phát triển đa dạng, tự phát, trang thiết bị không được đồng đều. Do đó, cần phân loại để đưa ra lộ trình phù hợp cho từng đơn vị DN. Mỗi DN cũng cần có kế hoạch riêng để không ảnh hưởng đến sản xuất và tối ưu hóa chi phí chuyển đổi.

Thay lời kết

Hiện nay, các thị trường NK thủy sản trên thế giới đang ngày càng khó tính hơn, vì vậy việc thay thế dần chất R22 được sử dụng tại các kho lạnh của các cơ sở CBTS là cần thiết. Tuy nhiên, trước những khó khăn chồng chất của các DN thủy sản thì việc thay thế công nghệ mới cho R22 đồng nghĩa với việc gia tăng thêm chi phí cho DN, bởi giá thiết bị chuyển đổi và giá nguyên liệu mới thay thế cho các chất HCFC còn khá cao.

Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần đưa ra những giải pháp chính sách nhằm hỗ trợ hơn nữa cho các DN về tài chính, công nghệ, kỹ thuật cũng như cơ chế chính sách,…như hỗ trợ kinh phí, ưu đãi vốn phù hợp cho các cơ sở CBTS, đồng thời tạo cơ chế khuyến khích cho các cơ sở sản xuất chế tạo thiết bị, công nghệ thay thế trong nước giúp giảm giá thành sản phẩm nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh cho các DNTS và nhà sản xuất.